Find the latest bookmaker offers available across all uk gambling sites www.bets.zone Read the reviews and compare sites to quickly discover the perfect account for you.
Home / Hình sự / Các trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự

Các trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự

Các trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trường hợp nào không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự Việt Nam.

Điều 2 Bộ luật hình sự quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Như vậy, chỉ một người phạm một tội do Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam chỉ được áp dụng đối với thể nhân, pháp nhân không phải chịu trách nhiệm hình sự. Pháp luật Việt Nam quy định, một người phải chịu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng đầy đủ cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy có một số hành vi tuy về hình thức có các dấu hiệu cấu thành của một tội phạm cụ thể, nhưng về nội dung những hành vi đó lại chứa đựng một số tình tiết làm loại trừ tính chất tội phạm của hành vi (hoặc tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi) hay nói cách khác, do thiếu ít nhất một trong các dấu hiệu cơ bản của tội phạm, nên hành vi ấy không bị coi là tội phạm và người thực hiện nó không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đó là những trường hợp sau:

1. Trường hợp hành vi có tính chất nguy hiểm không đáng kể

Khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự quy định như sau:Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Một trong những ranh giới phân biệt giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác chính là hành vi đó có tính chất nguy hiểm cho xã hội đáng kể hay không. Do đó với những hành vi dù có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải chịu trách nhiệm hình sự mà được xử lý bằng các biện pháp khác. Các biện pháp xử lý ở đây là hành chính hoặc kỷ luật khác. Chủ thể ở đây là người thực hiện hành vi bị xử lý hành chính hoặc kỷ luật khác.

2. Trường hợp sự kiện bất ngờ

Điều 11 Bộ luật hình sự quy định về sự kiện bất ngờ:Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trong trường hợp này người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội không có lỗi do đó pháp luật quy định là không phải chịu trách nhiệm hình sự.

3. Trường hợp chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Điều 12 Bộ luật hình sự:

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc  tội phạm  đặc biệt nghiêm trọng.

Theo như quy định trên thấy rằng : Người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự.

trách nhiệm hình sự

4. Trường hợp phòng vệ chính đáng

Điều 15 Bộ luật hình sự quy định về phòng vệ chính đáng như sau:

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả  rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Với quy định trên thì Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm và như vậy người phòng vệ chính đáng sẽ không phải trịu trách nhiệm hình sự

5. Trường hợp tình thế cấp thiết

Điều 16 Bộ luật hình sự:

1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành  vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Cũng giống như khẳng định trong điều 15 thì ở đây thì hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết cũng được khẳng định là không phải là tội phạm. Và rõ ràng người có hành  vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự.